Thời kỳ Kamakura – Wikipedia tiếng Việt


Thời kỳ Kamakura (鎌倉時代 (Liêm Thương thời đại) Kamakura-jidai?, 1192–1333) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản đánh dấu sự thống trị của Mạc phủ Kamakura, chính thức thiết lập năm vào 1192 bởi shogun Kamakura đầu tiên Minamoto no Yoritomo.

Thời kỳ Kamakura chấm dứt vào năm 1333 với sự sụp đổ của Mạc phủ và việc tái lập ngắn ngủi đế quyền của Nhật hoàng Go-Daigo bởi Ashikaga Takauji, Nitta Yoshisada, và Kusunoki Masashige.





Thời kỳ Kamakura đánh dấu sự chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên đất đai và sự tập trung kỹ thuật quân sự hiện đại vào tay tầng lớp võ sĩ. Các lãnh chúa yêu cầu sự phục vụ trung thành của các chư hầu, đổi lại họ được ban thưởng thái ấp. Chủ thái ấp áp dụng các luật lệ quân sự địa phương.

Khi Minamoto Yoritomo đã củng cố quyền lực của mình, ông thành lập một chính thể mới tại quê nhà Kamakura. Ông gọi chính thể này là bakufu (幕府, Mạc phủ), còn bản thân ông được Nhật hoàng phong chức Seii Tai-shōgun. Yoritomo đi theo chính thể gia đình trị của gia tộc Fujiwara và có một hội đồng hành chính, một ủy ban của các thuộc hạ và một ủy ban thẩm tra. Sau khi sung công đất đai ở miền Trung và miền Tây Nhật Bản, ông bổ nhiệm người quản lý các vùng đất này và đốc quân cho các tỉnh. Là Shogun, Yoritomo có cả người quản lý lẫn đốc quân. Tuy vậy, Mạc phủ Kamakura không phải là một triều đại quốc gia, và mặc dù nó kiểm soát những vùng đất rộng lớn, vẫn có sự chống đối mạnh mẽ với những người quản lý. Chế độ này tiếp tục chiến tranh chống lại nhà Bắc Fujiwara, nhưng không bao giờ có thể hoàn toàn kiểm soát về quân sự với cả phương Bắc lẫn phía Tây. Triều đình cũ đóng tại Kyoto, tiếp tục nắm giữ đất đai mà họ có quyền lực tại đó, trong khi các gia đình quân sự được tổ chức theo kiểu mới bị Kamakura lôi kéo.


Tượng gỗ Nhật Bản kongorikishi thế kỷ 14, thời kỳ Kamakura.

Bất chấp khởi đầu mạnh mẽ, Yoritomo không thể củng cố quyền lãnh đạo của gia đình mình trên nền tảng lâu dài. Sự bất đồng trong nội bộ gia đình đã từ lâu tồn tại trong nhà Minamoto, mặc dù Yoritomo đã tiêu diệt những kẻ thách thức chính với quyền lực của mình. Khi ông đột ngột qua đời năm 1199, con trai ông Minamoto no Yoriie trở thành Shogun và người đứng đầu trên danh nghĩa của nhà Minamoto, nhưng Yoriie không thể kiểm soát được các gia đình chiến binh ở phía Đông. Cho đến đầu thế kỷ 13, một Nhiếp chính được bổ nhiệm cho Shogun, đó là Hōjō Tokimasa—một thành viên của gia tộc Hōjō, một nhánh của nhà Taira đã tự mình liên minh với nhà Minamoto năm 1180. Người đứng đầu nhà Hōjō được lập làm nhiếp chính cho Shogun trong thời này được gọi là Shikken, mặc dù sau đó những vị trí được tạo ra với quyền lực tương tự như Tokuso và Rensho. Thường thì Shikken cũng là Tokuso và Rensho. Dưới thời Hōjō, Shogun trở thành một bù nhìn không còn quyền lực.

Với người bảo vệ cho Thiên hoàng (Shogun) tự mình cũng chỉ là một con bù nhìn, căng thẳng giữa Kyoto và Kamakura nảy sinh, và năm 1221, chiến tranh Jōkyū nổ ra giữa vị Nhật hoàng ẩn dật Go-Toba và vị nhiếp chính thứ hai Hōjō Yoshitoki. Quân đội nhà Hōjō dễ dàng chiến thắng, và triều đình phải chịu sự kiểm soát trực tiếp của Mạc phủ. Các nguyên soái của Shogun giành được quyền lực dân sự lớn hơn, và triều đình bị ép buộc phải có được sự phê chuẩn của Kamakura trên mọi vấn đề. Mặc dù bị lấy mất quyền lực chính trị, triều đình vẫn giữ được số đất đai lớn.

Vài thành tựu về hành chính quan trọng đạt được dưới thời nhiếp chính Hōjō. Năm 1225, nhiếp chính thứ 3 Hōjō Yasutoki thành lập Hội đồng Quốc gia, trao cơ hội cho các lãnh chúa quân sự khác thực hiện quyền tư pháp và lập pháp tại Kamakura. Nhiếp chính Hōjō chủ trì hội đồng, một hình thức cùng lãnh đạo thành công. Việc áp dụng bộ luật quân sự đầu tiên của Nhật Bản — Goseibai Shikimoku—năm 1232 phản ánh sự chuyển dịch về bản chất từ triều đình sang xã hội quân sự hóa. Trong khi việc thực thi pháp luật tại Kyoto vẫn dựa trên các nguyên tác Nho giáo 500 năm tuổi, bộ luật mới là các văn bản bắt buộc thi hành cao, nhấn mạnh vào nhiệm vụ của những người quản lý về dân sự và quân sự, đưa ra phương tiện để giải quyết các tranh chấp đất đai, và thành lập các quy tắc về quyền thừa kế. Nó súc tích và rõ ràng, quy định việc trừng phạt người vi phạm, và vẫn có hiệu lực trong vòng 635 năm sau.

Văn chương thời kỳ này phản ánh tình hình bất ổn của thời đại. Hōjōki miêu tả sự loạn lạc của thời kỳ này dưới dạng các khái niệm Phật giáo về tính phù du và phù phiếm của loài người. Heike monogatari thuật lại sự hưng thịnh rồi sụp đổ của nhà Taira, cung cấp nhiều câu chuyện về chiến tranh và chiến công của các samurai. Dòng văn học thứ hai là sự tiếp diễn của hợp tuyển thơ Shin Kokin Wakashū, bao gồm 20 tập được làm từ năm 1201 đến năm 1205.



Trong thời đại chia rẽ và bạo lực, chủ nghĩa bi quan sâu sắc gia tăng sự hấp dẫn muốn tìm kiếm sự giải thoát. Kamakura là thời đại phổ cập Phật giáo trong dân chúng. Hai tông phái mới Jōdo shū và Zen, thống trị thời kỳ này. Các tu viện trên núi Hiei đã trở thành các quyền lực chính trị nhưng hấp dẫn chủ yếu những người có học vấn một cách hệ thống về các lời huấn thị của tông phái, trong khi phái Shingon và những lễ nghi bí truyền tiếp tục được các gia đình quý tộc ở Kyoto ủng hộ rộng rãi. Trong thời kỳ này, một số lớn các nhà sư rời bỏ phái Tendai để sáng lập một phái Phật giáo riêng của mình, bao gồm


  • Hōnen, người sáng lập Phật giáo Jōdo shū.

  • Shinran, học trò của Hōnen và là người sáng lập phái Jodo Shinshu.

  • Ippen, người sáng lập phái Ji, nhấn mạnh vào sự tận tâm với A Di Đà qua những điệu nhảy cuồng nhiệt.

  • Dōgen, người sáng lập phái Sōtō, hay phái "tiệm ngộ" của phái Zen.

  • Eisai, người sáng lập phái Rinzai, hay phái "đốn ngộ" của phái Zen.

  • Nichiren, người sáng lập phái phái Nichiren, nhấn mạnh về sự hiến dâng cho chính Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Các tông phải Phật giáo cũ như Shingon, Tendai và các trường phái đầu thời Nara tiếp tục hưng vượng trong suốt thời Kamakura, và thậm chí còn tiến hành những phương pháp để hồi sinh. Tuy vậy, với số lượng trường phái mới thời Kamakura ngày càng tăng, các trường phái cũ bị các trường phái mới hơn che lấp vì chúng có được những người tin theo từ chính quyền Kamakura, và các samurai của nó.



Việc đánh lui hai cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ là những sự kiện quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Quan hệ Nhật Bản với Trung Quốc đã chấm dứt từ giữa thế kỷ 9 sau sự sụp đổ của nhà Hậu Đường Trung Quốc và sự hướng nội của triều đình Heian. Vài mối liên hệ thương mại vẫn được duy trì với nhà Nam Tống trong các thế kỷ sau, nhưng hải tặc Nhật Bản khiến cho đại dương trở nên nguy hiểm. Vào thời kỳ mà Mạc phủ không mấy quan tâm đến vấn đề đối ngoại và lờ đi các mối liên hệ từ Trung Quốc và Cao Ly, tin tức đến từ năm 1268 về việc nhà Nguyên đã lên ngôi ở Bắc Kinh. Lãnh tụ của nó, Kublai Khan, yêu cầu Nhật Bản nộp cống phẩm cho nhà Nguyên và đe dọa trả đũa nếu họ không thực hiện. Không quen với những mối đe dọa kiểu như vậy, Kyoto tuyên cáo về nguồn gốc thần thánh của Nhật Bản và từ chối yêu cầu của Mông Cổ, đuổi người đưa tin Triều Tiên, và bắt đầu chuẩn bị phòng thủ.


Samurai Nhật Bản leo lên thuyền Mông Cổ năm 1281.

Sau những lời khẩn nài hơn nữa vẫn không thành công, cuộc xâm lăng đầu tiên của người Mông Cổ diễn ra năm 1274. Hơn 600 tàu chở quân đội có cả người Mông Cổ, người Trung Quốc và người Triều Tiên với 23.000 quân được trang bị máy bắn đá, tên lửa và cung tên. Trong chiến đấu, các chiến binh hợp thành nhóm gần đội hình kỵ binh chống lại các samurai, những người vốn đã quen với những trận chiến một chọi một. Quân đội địa phương Nhật Bản Hakata, phía Bắc đảo Kyūshū, chống lại lực lượng đổ bổ vượt trội, tuy vậy, chỉ sau một ngày chiến đấu đã bị mất đến chín phần mười vì một cơn cuồng phong bất ngờ. Kublai nhận ra rằng tự nhiên, không phải trình độ quân sự, là lý do cho thất bại của quân đội ông, và năm 1281, ông tiến hành một cuộc xâm lược lần thứ hai. 7 tuần giao tranh diễn ra ở phía Tây Bắc đảo Kyūshū trước khi một cơn bão khác tấn công, một lần nữa hủy diệt hạm đội Mông Cổ.

Mặc dù các tu sỹ Shinto gán hai lần đánh bại quân Mông Cổ là nhờ kamikaze (thần phong), dấu hiệu cho sự bảo trợ đặc biệt của trời với nước Nhật, cuộc xâm lăng cũng để lại một ấn tượng sâu sắc với các lãnh đạo Mạc phủ. Mối đe dọa lâu dài của Trung Quốc với Nhật Bản được củng cố. Tuy vậy, chiến thắng của người Nhật mang đến cho các chiến binh cảm giác chiến đấu mạnh hơn vẫn còn trong người lính Nhật cho đến năm 1945. Chiến thắng cũng thuyết phục các chiến binh về giá trị của thể chế Mạc phủ với chính quyền.

Chiến tranh với Mông Cổ là sự tổn hại với nền kinh tế, các loại thuế mới được thu thêm để duy trì việc chuẩn bị phòng thủ cho tương lai. Hai cuộc xâm lăng cũng gây ra sự bất mãn trong những người hy vọng được ban thưởng vì trợ giúp của họ trong việc đánh bại quân Mông Cổ. Tuy vậy, không có đất đai hay tặng phẩm nào được ban thưởng, và sự bất mãn như thế, kết hợp với sự mở rộng quá mức và gia tăng chi phí phòng thủ, dẫn đến sự suy sụp của Mạc phủ Kamakura. Thêm vào đó, những người thừa kế đã chia nhỏ tài sản của gia đình, và các địa chủ ngày càng phải dựa vào những người cho vạy. Các nhóm ronin lưu động càng đe dọa hơn nữa sự ổn định của Mạc phủ.



Nhà Hōjō tiến tới sự hỗn loạn sau đó bằng cách cố giành thêm nhiều quyền lực trong số rất nhiều các gia tộc lớn. Để làm suy yếu hơn nữa triều đình ở Kyoto, Mạc phủ quyết định cho phép hai nhánh vốn đang đấu tranh với nhau của Hoàng gia —gọi là Nam Triều hay chi thứ và Bắc Triều hay chi trưởng —thay thế nhau trên ngai vàng. Phương pháp này hiệu quả cho vài lần kế vị cho đến khi một thành viên của Nam Triều lên ngai vàng, Nhật hoàng Go-Daigo. Go-Daigo muốn lật đổ Mạc phủ, và ông công khai bất chấp Kamakura bằng cách chọn con trai ông làm người kế vị. Năm 1331, Mạc phủ lưu đày Go-Dagio, nhưng quân đội trung thành với ông, bao gồm Kusunoki Masashige nổi dậy. Họ được Ashikaga Takauji trợ giúp, một nguyên soái quay lưng lại Kamakura khi được gửi đi để dẹp cuộc nổi dậy của Go-Daigo. Cùng lúc đó, Nitta Yoshisada, một thủ lĩnh khác ở phía Đông, nổi dậy chống lại Mạc phủ, Mạc phủ tan rã nhanh chóng và nhà Hōjō bị đánh bại.

Trên đà thắng lợi, Go-Daigo cố gắng phục hồi quyền lực của Hoàng gia và thực hiện theo Nho giáo thế kỷ 10. Thời kỳ cải cách, được gọi là Tân chính Kenmu, với mục dích củng cố vị thế của Thiên hoàng và tái xác nhận vị thế đứng đầu của quý tộc trong triều so với các chiến binh. Tuy vậy, sự thực là quân đội nổi lên chống lại Kamakura với mục đích tiêu diệt nhà Hōjō, chứ không phải ủng hộ Thiên hoàng. Ashikaga Takauji cuối cùng sát cánh cùng Bắc Triều trong một cuộc nội chiến chống lại Nam Triều mà đại diện là Go-Daigo. Cuộc chiến giữa hai triều đình kéo dài từ năm 1336 đến năm 1392. Ban đầu, Go-Daigo bị đánh bật khỏi Kyoto, và địch thủ của Bắc Triều được Ashikaga Takauji đưa lên ngôi, Takauji sau này cũng tự mình lập nên một dòng Shogun mới.












Sân bay Abdul Rachman Saleh – Wikipedia tiếng Việt


Tọa độ: 07°55′35″N 112°42′52″Đ / 7,92639°N 112,71444°Đ / -7.92639; 112.71444


Sân bay Abdul Rachman Saleh

Bandar Udara Abdul Rachman Saleh


Mã IATA
MLG
Mã ICAO
WARA
Vị trí
Độ cao
526 m (1.726 ft)
Thông tin chung
Kiểu sân bay
dân dụng/quân sự
Các đường băng











Hướng
Chiều dài
Bề mặt
m
ft
17/35
1.970
6.464
Asphalt
17L/35R
1.500
4.921
Asphalt

Nguồn: DAFIF[1][2]

Sân bay Abdul Rachman Saleh (IATA: MLG, ICAO: WARA, tên trước đây WIAS) là một sân bay ở Malang, thành phố lớn nhất ở tỉnh Đông Java của Indonesia. Sân bay này có hai đường băng rải asphalt.


Các hãng hàng không và các tuyến điểm[sửa | sửa mã nguồn]


Hiện có các hãng hàng không sau đang hoạt động tại sân bay Abdul Rachman Saleh:


  • Garuda Indonesia (Jakarta)

  • Sriwijaya Air (Jakarta)


  1. ^ Dữ liệu hàng không thế giới thông tin về sân bay cho WARA

  2. ^ Thông tin về MLG ở Great Circle Mapper. Dữ liệu được cập nhật lần cuối vào tháng 10 năm 2006.. Nguồn: DAFIF.



  • ASN lịch sử tai nạn của MLG









Sân bay Szczecin-Goleniów "Solidarność" – Wikipedia tiếng Việt














Sân bay Szczecin-Goleniów "Solidarność"
Port Lotniczy Szczecin-Goleniów im. NSZZ "Solidarność"
Lotnisko Szczecin-Goleniów.jpg

IATA: SZZ - ICAO: EPSC
Tóm tắt
Kiểu sân baycông
Cơ quan điều hànhSzczecin-Goleniów Airport Ltd.
Phục vụSzczecin
Độ cao AMSL
154 ft (47 m)
Tọa độ
53°35′5″B 14°54′7″Đ / 53,58472°B 14,90194°Đ / 53.58472; 14.90194
Đường băng
Hướng
Chiều dài
Bề mặt
ft
m
13/31
8.,202
2.,500
Asphalt
Thống kê (2007)[1]
Số lượt khách năm 2007
Thay đổi so với 2006

227.899
+29,00%

Số lượt chuyến năm 2005
Thay đổi so với năm 2004

3.050
-2,84%

Hàng hóa năm 2005
Thay đổi so với năm 2004

655,89 t
+12,63%

Sân bay Szczecin-Goleniów "Solidarność" (tiếng Ba Lan: Port Lotniczy Szczecin-Goleniów im. NSZZ "Solidarność") (IATA: SZZ, ICAO: EPSC) là sân bay chính của thành phố Szczecin ở Ba Lan, nằm cách thành phố 45 km về phía đông bắc, gần thị xã Goleniów, ở làng Glewice. Sân bay này được xây trong giai đoạn 1953-56 tại thời điểm đỉnh điểm của Chiến tranh lạnh. Lúc đầu đường băng có kích thước 1800 m x 45 m. Năm 1967, sân bay dân dụng ở Dąbie được dời đến đây được đặt tên là Port Lotniczy Szczecin-Goleniów. Giai đoạn 1976-77, đường băng được kéo dài thành 2500 m và xây một nhà ga hành khách mới. Đường băng và sân đỗ được nâng cấp năm 1998. Một nhà ga mới được khai trương năm 2001 và được nâng cấp tiếp đến cuối năm 2005.


Mục lục


  • 1 Các hãng hàng không và các tuyến điểm

  • 2 Xem thêm

  • 3 Tham khảo

  • 4 Liên kết ngoài



Các hãng hàng không và các tuyến điểm[sửa | sửa mã nguồn]


  • LOT Polish Airlines (Warsaw)
    • operated by EuroLOT (Warsaw)

  • Norwegian Air Shuttle (Oslo/Rygge-Moss)

  • Ryanair (Bristol [bắt đầu ngày 28 tháng 10], Dublin, London-Luton [bắt đầu ngày 28 tháng 10], London-Stansted)

Các chuyến bay thuê bao nối vởi Ai Cập (Hurghada và Sharm el-Sheikh), Thổ Nhĩ Kỳ và Tunesia.



Danh sách sân bay Ba Lan





  • Trang mạng chính thức của Sân bay Szczecin

  • Dữ liệu hàng không thế giới thông tin về sân bay cho EPSC

Bản mẫu:Airports of Poland






Sân bay Poznań-Ławica – Wikipedia tiếng Việt


Sân bay Poznań-Ławica (IATA: POZ, ICAO: EPPO) là một sân bay ở Ba Lan. Sân bay này được xây dựng năm 1913, là một trong những sân bay sớm nhất Ba Lan. Sân bay này nằm cách trung tâm Poznań 7 km về phía tây.


Các hãng hàng không và các tuyến điểm[sửa | sửa mã nguồn]


  • Centralwings (Palma de Mallorca, Rhodes, Rome-Ciampino)

  • Jet Air (Kraków)

  • LOT Polish Airlines (Frankfurt, Munich, Łódź, Brussels)
    • vận hành bởi EuroLOT (Warsaw, Zielona Góra)

  • Lufthansa

  • Ryanair (Bristol, Dublin, East Midlands, Edinburgh [begins 24 September], Girona, Liverpool, London-Stansted)

  • Scandinavian Airlines System (Copenhagen)

  • Wizz Air (Doncaster/Sheffield, Dortmund, Glasgow-Prestwick, London-Luton, Malmö, Oslo-Torp, Stockholm-Skavsta)



Bản mẫu:Airports of Poland








Phượng vĩ – Wikipedia tiếng Việt



Phượng hay phượng vĩ, phượng vỹ, xoan tây, điệp tây (danh pháp hai phần: Delonix regia) (họ Fabaceae), là một loài thực vật có hoa sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Tên gọi trong tiếng Trung của nó là 鳳凰木 (phượng hoàng mộc), 金鳳 (kim hoàng). Tên thông dụng trong tiếng Anh là: Flamboyant, Royal poincianaMohur tree. Trong tiếng Việt, nên phân biệt: Phượng là cây to (đại thụ), cao tới 20 mét, trái dài 1 mét, rất nặng; còn phượng vỹ, cây nhỏ, cao tối đa 5 mét, trái dài 6 phân, hoa giống hình chim phượng với đuôi dài nên gọi là phượng vỹ (có nghĩa là đuôi chim phượng). [cần dẫn nguồn]






Lá phức lông chim kép

Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó trong các cánh rừng ở miền tây Malagasy. [1] Trong điều kiện hoang dã, nó là loài đang nguy cấp, nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi. Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày đặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh.
Cánh hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ hơi cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng hoặc cam/vàng (cũng có khi trắng/đỏ). Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30–50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.


Sinh trưởng[sửa | sửa mã nguồn]


Cây tái sinh hạt và chồi đều mạnh, có thể phát triển tốt trên mọi loại địa hình: ven biển, đồi núi, trung du. Cây thuộc loại ưa sáng, mọc khoẻ, phát triển nhanh, không kén đất, rất dễ gây trồng. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là tuổi thọ không cao: cây trồng trên đường phố chỉ 30 tuổi là đã già cỗi, thân có dấu hiệu mục rỗng, sâu bệnh, nấm bắt đầu tấn công. Còn cây trồng trong công viên, trường học thì có thể có tuổi thọ cao hơn nhưng cũng chỉ đạt 40-50 năm tuổi.



Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.


Cây phượng vĩ tại Blakiston St, Harare, Zimbabwe, 1975

Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson, Arizona) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo Virgin và Guam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc Mariana (CNMI).

Phượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Úc, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar.

Tại Việt Nam, phượng vĩ được người Pháp du nhập vào trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn.[cần dẫn nguồn] Hiện nay phượng vĩ là loài cây được trồng rộng rãi từ miền Bắc vào miền Nam trên vỉa hè, công viên, trường học. Thành phố Hải Phòng còn được gọi là thành phố Hoa phượng đỏ; nơi đây hoa phượng được trồng khắp nơi, có cả một công viên hoa phượng ngay trung tâm thành phố, có lễ hội hoa phượng diễn ra vào tháng 5 rất độc đáo.

Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi: shak-shak hay maraca.

Gỗ thuộc loại trung bình, dùng trong xây dựng,đồ gỗ dân dụng, đóng hòm, xẻ ván. Cây cho vỏ và rễ làm thuốc hạ nhiệt,chống sốt. Vỏ cây có thể sắc nước uống trị sốt rét, đầy bụng, tê thấp, giảm huyết áp. Lá trị tê thấp và đầy hơi.



Những quầy bán hàng dưới gốc phượng vĩ bên ngoài nhà thờ Santo Domingo, Oaxaca, Mexico

  • Phượng vĩ nở hoa từ khoảng tháng 4 đến tháng 6, tùy theo khu vực.

  • Tên "phượng vĩ" là chữ ghép Hán Việt -- "phượng vỹ" có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.

Tại Việt Nam, phượng vĩ là biểu tượng gắn liền với tuổi học trò, do mùa nở hoa của nó trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay của nhiều thế hệ học trò. Do vậy, nó gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, và vì thế người ta gắn cho nó tên gọi "hoa học trò". Thành phố Hải Phòng là khu vực trồng rất nhiều phượng vĩ, vì thế thành phố này còn được gọi một cách văn chương là "thành phố Hoa Phượng Đỏ". Nhà thơ Thanh Tùng có bài thơ Thời hoa đỏ đã được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc thành bài hát cùng tên, viết về những kỷ niệm của tuổi trẻ với mùa hoa phượng vĩ.






  1. ^ B. Wiecek: Delonix regia bei New South Wales Flora Online. Abgerufen am 5. März 2013.


Báng – Wikipedia tiếng Việt


Cây báng (các tên gọi khác: đác, co pảng, quang lang, bụng báng, búng báng, báng búng, Cây Tà vạt, Cây rượu trời, Cây dừa núi), danh pháp khoa học Arenga pinnata, là giống cây lâu năm thuộc họ Cau, có nguồn gốc khu vực nhiệt đới châu Á, từ đông Ấn Độ về phía đông tới Malaysia, Indonesia, và Philippines. Ở Việt Nam, cây báng mọc nhiều ở chân núi ẩm (Cao Bằng, Lạng Sơn), chân núi đá vôi, trong rừng thứ sinh.






Ở tuổi trưởng thành cây có đường kính khoảng 40–50 cm (gốc và ngọn tương đương) và cao chừng 8-12 mét. Lá xẻ lông chim to trông như lá dừa, mặt dưới màu trắng. Cuống và bẹ lá có nhiều sợi dài có thể bện thừng. Bông mo phân nhánh nhiều, cong. Hoa đực có 70-80 nhị, hoa cái có ba lá đài còn lại trên quả. Cuống hoa chứa nhiều nước ngọt, có thể nấu thành đường hoặc cho lên men rượu. Lõi thân chứa nhiều tinh bột, ăn được. Thân đục ra làm máng nước. Ruột cây báng đặc, có cấu trúc sợi trải thưa dọc theo chiều thân cây, là chất liệu màu trắng, mềm.



Bột trong lõi cây có thể dùng làm lương thực. Cho đến giữa thế kỉ 20, người Rục ở miền tây Quảng Bình còn lấy bột báng làm lương thực chính.
Hiện nay ở Trung Quốc họ sử dụng bột báng rất nhiều để làm đồ uống mát bổ có lợi cho sức khỏe, bột báng còn là chất phụ gia kông thể thiếu trong ẩm thực và làm bánh kẹo.

Lõi của trái trên cây là hạt đác, rất được ưa chuộng ở In-đô-nê-xi-a (được gọi là kolang-kaling or buah tap) hay Phi-líp-pin (được gọi là kaong). Ở Việt Nam, loại hạt này là đặc sản của vùng Nam Trung Bộ như những tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa.

Nhiều người trồng báng làm cảnh vì có dáng đẹp.


Rượu báng[sửa | sửa mã nguồn]


Dân miền núi thường lấy ruột cây để ủ men nấu rượu. Được nấu từ ruột cây báng sau khi đã ủ men rượu. Rượu báng là đặc sản của dân miền núi đá cao.
Hiện nay ở một số xã của tỉnh Cao Bằng người dân vẫn làm rượu từ cây báng, nhưng phải mất khá nhiều thời gian để ủ và lên men (4 tháng) mới có thể cất rượu được



Từ bột báng ngoài nghĩa là bột lấy từ thân cây báng còn là tên gọi của loại bột làm từ củ của cây sắn.

Ngoài ra từ Báng (Báng Cổ trướng) còn dùng để chỉ một tình trạng tích tụ dịch bệnh lý trong khoang phúc mạc [1]




  1. ^ Giáo trình Nội Cơ Sở | Đại học Y dược Huế








Di-lặc – Wikipedia tiếng Việt



Tượng Di Lặc, Viện bảo tàng Patan, Kathmandu

Phật tương lai Di Lặc (ở giữa), Gandhara, thế kỷ thứ 3


Di-lặc hay Di Lặc (zh. 彌勒, sa. maitreya, pi. metteyya là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), "người có lòng từ", cũng có thuyết có tên là Vô Năng Thắng (zh. 無能勝, sa. ajita), phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa. Di Lặc là một vị Bồ Tát hay là Chuyển luân thánh vương.

Trong Phật giáo Tây Tạng, bồ tát Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10, hòa thượng Bố Đại được xem là hiện thân của Di Lặc.





Theo kinh điển Phật giáo, Di Lặc là vị Phật sẽ xuất hiện trên Trái Đất, đạt được giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật. Phật Di Lặc sẽ là vị Phật kế tiếp Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Cõi giáo hóa của Bồ Tát hiện nay là nội viên của cõi trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Bồ Tát Di-lặc được tiên tri sẽ giáng sinh trong kiếp giảm của tiểu kiếp kế tiếp, khi nhân thọ là 80.000 năm, tức khoảng hàng trăm triệu năm nữa theo năm Trái Đất, khi Phật Pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên.

Sự tích về Phật Di Lặc được tìm thấy trong các tài liệu kinh điển của tất cả các tông phái Phật giáo (Nguyên thủy, Đại thừa, Kim cương thừa), và được chấp nhận bởi hầu hết các Phật tử như là một sự kiện sẽ diễn ra khi Phật Pháp đã bị lãng quên trên Trái Đất, và Bồ Tát Di-lặc sẽ là bậc giác ngộ Pháp và thuyết lại cho chúng sinh, tương tự như những vị Phật lịch sử đã làm trong quá khứ.

Nếu năm đức Phật xuất hiện trên Trái Đất được xem là hóa thân của Ngũ Phật thì Bồ Tát Di-lặc được xem như hóa thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Ngũ trí).

Có thuyết cho rằng, chính Bồ Tát Di-lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Maitreyanātha (sa. Maitreya-nātha), thầy truyền giáo lý Duy thức cho Vô Trước (sa. asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di Lặc (Từ Thị) ngũ luận:


  1. Đại thừa tối thượng luận hoặc Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận (sa. mahāyānottaratantra)

  2. Pháp pháp tính phân biệt luận (sa. dharmadharmatāvibaṅga)

  3. Trung biên phân biệt luận (sa. madhyāntavibhāga-śāstra)

  4. Hiện quán trang nghiêm luận (sa. abhisamayālaṅkāra)

  5. Đại thừa kinh trang nghiêm luận (sa. mahāyānasūtralaṅkāra)

Như đã nêu ở trên, Phật Di Lăc chỉ giáng sinh sau 1 thời gian rất dài về sau, khi Phật Pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên. Tuy nhiên trong quá khứ, một số người đã tự xưng mình là Phật Di Lặc giáng thế để thực hiện các mưu đồ chính trị. Năm 689, Võ Tắc Thiên đã hạ lệnh cho Pháp Lãng ngụy tạo Đại Vân Kinh, cho rằng Võ Hậu là Di-lặc hạ sanh. Khoảng năm 713-755, Vương Hoài Cổ cũng tự xưng là Tân Phật (Phật Di-lặc) rồi khởi binh làm loạn. Năm 1022-1063 đời Bắc Tống, Vương Túc thống lãnh giáo đồ Di-lặc làm phản ở Bối Châu...



Tên Từ Thị (Maitreya trong tiếng Phạn, hay là Metteyya trong tiếng Pāli) xuất phát từ truyền thuyết: vì muốn giáo hóa các chúng sanh nên từ lúc mới phát tâm, Ngài đã không ăn thịt chúng sanh. Còn theo Đại Nhật Kinh Sớ, Từ Thị nghĩa là chủng tính từ bi, gồm hai chữ: Từ trong Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) của Phật, Thị là chủng, họ, tộc, do lòng Từ đó sanh ra từ chủng tính Như Lai, có năng lực làm cho tất cả thế gian không đoạn dứt Phật chủng.

Còn theo phẩm Tùy Hỷ trong Kinh Pháp Hoa và Kinh Bình Đẳng Giác, Di-lặc chính là A-dật-đa (tiếng Phạn: Ajita, Hán dịch là Vô Thắng, Vô Năng Thắng hoặc Vô Tam Độc). Ngài là một vị đệ tử của Phật Thích-ca. Nhưng theo Kinh Thuyết Bản trong Trung A-hàm 13, Kinh Xuất Diệu 6 và Luận Đại Tỳ-bà-sa 178, Di-lặc và A-dật-đa là hai nhân vật khác nhau. Trong bài kệ tựa phẩm Bỉ Ngạn Đạo (Pàràyana) của Kinh Tập (Sutta - nipàta) thuộc Đại Tạng Kinh Pàli đều nêu cả hai tên A-dật-đa (Ajita) và Đế-tu Di-lặc (Tissametteyya), tức hoàn toàn cho đó là hai người khác nhau.

Từ Thị được đề cập sớm nhất ở Cakavatti (Sihanada) Sutta, Digha Nikaya 26 trong Kinh tạng Pali. Một số kinh Pali khác không có sự xuất hiện của Ngài, dẫn đến việc nghi ngờ tính xác thực của một số bài kinh. Hầu hết các bài giảng của Đức Phật được trình bày ở dạng hỏi đáp, trong đó, đức Phật giải đáp các thắc mắc của đệ tử, hoặc trong một số bối cảnh thích hợp khác. Nhưng kinh này có một khởi đầu và kết thúc, trong đó Đức Phật đang nói chuyện với các nhà sư về một cái gì đó hoàn toàn khác. Điều này dẫn Gombrich đến kết luận rằng một trong hai loại kinh là ngụy tạo, hoặc ít nhất bị giả mạo.




Trong tranh hay tượng, Di-lặc ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh.

Tại Trung Quốc, Bồ Tát Di-lặc cũng hay được trình bày với tướng mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh. Người ta tin rằng đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10.



Theo Phật giáo Nguyên thủy và Nam Tông[sửa | sửa mã nguồn]


Theo Bắc Tông và ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]


Hình tượng Di Lặc này là dựa theo tính cách của hòa thượng Bố Đại, được xem là một hiện thân của Di-lặc trong Phật giáo Trung Hoa, từ thế kỷ 10








Tiếng Việt

Tiếng Anh

Eragon – Wikipedia tiếng Việt


Eragon là một tiểu thuyết giả tưởng được xuất bản lần đầu vào năm 2003. Đây là phần đầu của bộ truyện Di sản kế thừa, thuộc thế giới huyền thoại hư cấu mang tên Alagaësia của nhà văn người Mỹ Christopher Paolini.

Câu chuyện kể về cậu bé Eragon nhặt được một quả trứng kì lạ. Quả trứng ấy nở ra một con rồng cái và được Eragon đặt tên là Saphira. Eragon phải mang trọng trách của một kị sĩ rồng để cứu vương quốc Alagaësia khỏi bàn tay bạo chúa Galbatorix, người cai trị Alagaësia cũng như tìm lại nguồn gốc của chính mình.

Eragon là sách bìa cứng bán chạy thứ ba của năm[1], là sách bìa mềm bán chạy thứ hai của năm 2005[2], và đã lọt vào danh sách những sách bán chạy trong 121 tuần không liên tiếp do New York Times bình chọn[3].

Eldest (Đại ca), là quyển sách thứ hai của bộ truyện Di sản kế thừa đã xuất bản vào ngày 23 tháng 8 năm 2005.

Brisingr (Hỏa kiếm) là quyển thứ ba được ra mắt ngày 23 tháng 9 năm 2008

Eragon cũng đã được chuyển thể thành bộ phim cùng tên, ra mắt vào ngày 15 tháng 12 năm 2006. Trái với tiểu thuyết, bộ phim được đánh giá không cao vì không thể hiện hết được nội dung của truyện cũng như diễn xuất của diễn viên.





Eragon sống với người cậu Garrow và anh họ Roran trên một cánh đồng ở vùng nông thôn trong một ngôi làng được gọi là Carvahall. Trong một chuyến đi săn ở vùng Spine, Eragon tình cờ nhặt được một quả trứng chói sáng màu xanh lam. Vài ngày sau, quả trứng nở ra một cô rồng con xinh xắn. Eragon đặt tên cô rồng là Saphira, dựa theo câu chuyện về người kể chuyện trong làng- ông Brom. Eragon bí mật nuôi dưỡng Saphira cho đến khi hai tên tay sai của vua Galbatorix là Ra'zac đến Carvahall truy tìm quả trứng. Eragon và Saphira cố gắng chạy thoát bằng cách lẩn trốn trong rừng nhưng cậu Garrow đã bị thương nặng và ngôi nhà của họ bị bọn Ra'zac thiêu rụi. Eragon, Saphira cùng ông Brom lên đường rời khỏi Carvahall để trả thù cho cậu mình.

Eragon trở thành một kị sĩ rồng. Trên đường đi, Eragon học đấu kiếm, ma thuật, cổ ngữ và cách để trở thành một kị sĩ rồng từ ông Brom. Cuộc hành trình dẫn họ đến thành Teirm, nơi họ tìm thấy dấu vết của bọn Ra'zac ở Dras-Leona. Trước khi rời khỏi Teirm, Eragon đã có cuộc trò chuyện với bà phù thủy Angela, người cảnh báo cho cậu biết có nhiều nguy hiểm đang chực chờ cậu.

Đến Dras-Leona, họ cố gắng thâm nhập thành phố nhưng Eragon đã chạm trán bọn Ra'zac ở một thánh đường trong thành phố. Do kẻ thù quá mạnh họ phải chạy trốn nhưng chỗ cắm trại đã bị phục kích. Mặc dù, Murtagh, một người lạ mặt đã cứu họ, Brom bị thương nặng và qua đời ngay sau đó. Trước khi chết, ông hé lộ cho Eragon rằng ông cũng đã từng là một kị sĩ rồng và con rồng của ông cũng có tên là Saphira.

Murtagh trở thành bạn đồng hành mới của Eragon. Họ đi đến Gil'ead để tìm Varden, một nhóm quân cách mạng muốn lật đổ Galbatorix. Ngay khi vừa đến Gil'ead, Eragon bị bắt và bị nhốt ở một nhà lao mà cũng chứa một người phụ nữ mà cậu đã từng mơ thấy trong suốt chuyến đi. Khi đã ra khỏi nhà lao, Eragon khám phá ra cô là một tiên nữ. Murtagh và Saphira xuất hiện và giải cứu họ. Không may một tà thần tên là Durza hiện ra và ngăn họ. Murtagh giương cung vào đôi mắt của Durza và hắn biến mất sau đó.

Sau khi đã trốn thoát, Eragon được biết cô tiên nữ mà mình cứu được tên là Arya. Arya cũng nói cho họ biết rằng cô đang bị trúng độc và chỉ có Varden mới có thể cứu được cô. Arya dẫn đường cho họ đến Tronjhiem, một thành phố nằm trong ngọn núi Farthen Dûr, ẩn sau dãy núi dãy núi Beor và là nơi đóng quân của Varden. Eragon, Saphira, và Murtagh lên đường tìm quân Varden để cứu tính mạng của Arya cũng như tránh khỏi cơn thịnh nộ của Galbatorix.

Khi họ đến Farthen Dûr, Eragon được đưa đến vị thủ lĩnh của Varden, Ajihad. Ở đó, Eragon biết được quả trứng mà Eragon nhặt được do Arya bảo vệ và cô bị tấn công trên đường chuyên chở đó. Eragon cũng khám ra được tà thần Durza chưa bị tiêu diệt hoàn toàn mà chỉ có thể giết được khi đã tấn công vào trái tim của hắn.

Galbatorix đã phát hiện chỗ ở của Varden và triệu tập bọn quái vật Urgal đến để tiêu diệt họ. Eragon cố hết sức và tiêu diệt được Durza nhưng cậu lại bất tỉnh vì quá mệt. Trong cơn hôn mê, Eragon gặp một người tự nhận mình là 'Người tàn mà không phế', ông khuyên Eragon hãy đến Elesméra để rèn luyện cao hơn. Tiểu thuyết kết thúc khi Eragon bình phục và chuẩn bị cho hành trình mới đến Elesméra.

Khi Eragon tỉnh dậy, nó đã có một vết thẹo lớn dọc sau lưng. Nó thất kinh khi nhận thức được là chỉ đâm chết Durza nhờ may mắn và điều cần thiết nhất bây giờ là phải tu luyện thêm cho bản thân. Đây là kết cuộc của Quyển Một, Eragon quyết định, đúng vậy, nó tìm ra ông già Togira Ikonoka và theo học ông ta.







Chủ đề về Eragon quyển ba của thuvien-ebook.com



  • Alagaёsia Trang web chính thức của Di Sản Kế Thừa

  • Eragon page, từ Random House

  • [1] Thông tin về truyện ở nhà xuất bản Trẻ

  • [2] Thảo luận về Eragon trên diễn đàn của nhà xuất bản trẻ

Semih Şentürk – Wikipedia tiếng Việt


Semih Şentürk

Semih Şentürk Başakşehir.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ
Semih Şentürk
Ngày sinh
29 tháng 4, 1983 (35 tuổi)
Nơi sinh
İzmir, Thổ Nhĩ Kỳ
Chiều cao
1,83 m (6 ft 0 in)
Vị trí
Tiền đạo
Thông tin về CLB

CLB hiện nay


Eskişehirspor
Số áo
23
CLB trẻ
1998–2002
Özçamdibispor
CLB chuyên nghiệp*
Năm
Đội

ST

(BT)
1999–2002
Fenerbahçe A2

56

(63)
2001–2013
Fenerbahçe

205

(56)
2001–2002
→ İzmirspor (cho mượn)

22

(3)
2014
Antalyaspor

13

(3)
2014–2016
İstanbul Başakşehir

31

(11)
2016–
Eskişehirspor

9

(9)
Đội tuyển quốc gia
1999–2004
U-21 Thổ Nhĩ Kỳ

83

(42)
2007–2011
Thổ Nhĩ Kỳ

28

(8)

  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 4 tháng 4 năm 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Semih Şentürk (sinh ngày 29 tháng 4 năm 1983, tại İzmir, Thổ Nhĩ Kỳ) là cầu thủ bóng đá người Thổ Nhĩ Kỳ đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ İstanbul Başakşehir.





Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Semih bắt đầu sự nghiệp bóng đá từ Fenerbahçe PAF, đội trẻ của Fenerbahçe từ năm 1996 cho đến năm 1999. Sau 3 năm gắn bó với Fenerbahçe PAF, anh ghi được 63 bàn sau 56 trận.[1] Với thành tích trên, anh được đôn lên đội hình chính của Fenerbahçe ở năm 1999.

Mùa giải 2001-2002, anh được đem cho câu lạc bộ İzmirspor mượn để có thêm kinh nghiệm thi đấu. Tại đây anh có 6 bàn trong 20 trận rồi lại trở về Fenerbahçe, cùng câu lạc bộ này đoạt hai danh hiệu Turkcell Super League trong các năm 204 và 2005. Mùa giải 2005-2006, anh ghi được 8 bàn và đa phần là khi được vào sân từ băng ghế dự bị. Sau mùa giải 2006-2007 với sự ra đi của Ümit Özat và Tuncay Şanli, Semih trở thành đội phó của Fenerbahçe. Mùa giải 2007-2008, anh trở thành vua phá lưới giải Turkish Premier League với 17 bàn thắng và có thêm hai bàn thắng nữa ở UEFA Champions League 2007-2008, nơi Fenerbahçe đã lọt vào đến tứ kết và thua Chelsea FC.


Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]


Nhờ thành tích ghi bàn xuất sắc cho Fenerbahçe, Semih được gọi vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ cho 2 trận đấu quyết định tại vòng loại Euro 2008 gặp Na Uy và Bosnia-Herzegovina. Bàn thắng đầu tiên của anh cho đội tuyển là bàn thắng trong trận thắng 2-0 của Thổ Nhĩ Kỳ trước Phần Lan vào ngày 29 tháng 5 năm 2008. Semih có tên trong 23 cầu thủ của huấn luyện viên Fatih Terim dự Giải vô địch bóng đá châu Âu 2008.

Euro 2008 là giải đấu lớn đầu tiên Semih tham gia. Ngày 11 tháng 6, trong trận gặp chủ nhà Thụy Sĩ, anh vào sân thay người ở phút 46 khi Thổ Nhĩ Kỳ đang bị dẫn trước 1-0 và đến phút 57, anh đánh đầu ghi bàn san bằng tỉ số 1-1.[2] Chung cuộc Thổ Nhĩ Kỳ thắng 2-1.

Ngày 20 tháng 6, Semih trở thành người hùng của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ khi ghi bàn gỡ hòa 1-1 ở phút 120+2 trong trận tứ kết gặp Croatia đưa trận đấu đến các loạt sút luân lưu. Trong loạt sút này, anh cũng đã thực hiện thành công lượt sút thứ 2. Chung cuộc Thổ Nhĩ Kỳ thắng Croatia 3-1 trong loạt sút luân lưu và vào bán kết Euro 2008 gặp đội tuyển Đức.

Trong trận bán kết với Đức vào ngày 25 tháng 6, anh thắp lên hi vọng cho người Thổ khi gỡ hòa 2-2 ở phút thứ 86 từ đường chuyền của Sabri Sarıoğlu. Với bàn thắng này, anh cũng trở thành cầu thủ Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhiều bàn thắng nhất tại Euro 2008 với 3 bàn thắng. Khi trận đấu tưởng chừng sẽ diễn ra 30 phút hiệp phụ thì hậu vệ Philipp Lahm của Đức đã ghi bàn ấn định tỉ số 3-2 của trận đấu ở phút 90 chấm dứt cuộc phiêu lưu của Thổ Nhĩ Kỳ và Semih.[3]



Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới 4 tháng 4 năm 2016.[4]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]
















Thổ Nhĩ Kỳ
NămTrậnBàn
200720
200865
200971
2010102
201130
Tổng cộng288

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]


[cần dẫn nguồn]
























































#NgàyĐịa điểmĐối thủBàn thắngKết quảGiải đấu
1.
29 tháng 5 năm 2008
MSV-Arena, Duisburg, Đức Phần Lan2 – 02–0Giao hữu
2.
11 tháng 6 năm 2008
St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ Thụy Sĩ1 – 12–1Euro 2008
3.
20 tháng 6 năm 2008
Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo Croatia1 – 11–1Euro 2008
4.
25 tháng 6 năm 2008
St. Jakob-Park, Basel, Thụy Sĩ Đức2 – 22–3Euro 2008
5.
6 tháng 9 năm 2008
Sân vận động Hrazdan, Yerevan, Armenia Armenia0 – 20–2Vòng loại World Cup 2010
6.
1 tháng 4 năm 2009
Sân vận động Ali Sami Yen, İstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Tây Ban Nha1 – 01–2Vòng loại World Cup 2010
7.
26 tháng 5 năm 2010
Sân vận động Veterans, New Britain, Connecticut, Hoa Kỳ Bắc Ireland2 – 02–0Giao hữu
8.
7 tháng 9 năm 2010
Sân vận động Şükrü Saracoğlu, İstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Bỉ2 – 13–2Vòng loại Euro 2012

Fenerbahçe[sửa | sửa mã nguồn]


Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]


  • Vua phá lưới Giải vô địch bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ mùa giải 2007-08 với 17 bàn thắng.



738 - Trend cảnh báo: Cutouts

1 / 16
2 16
© CSPA/NEWSPORT/CORBIS [@] Herzog & amp; de Meuron của Bird's Nest stadium
[@] cho thế vận hội mùa hè 2008 tại Bắc Kinh. [@] 3 16
4 16
5 16
Lara Robby / Studio D [@] 6 16
Lara Robby / Studio D [@] 7 16
8 16
9 16
10 16
11 16
12 16
Lara Robby / Studio D [@] 13 16
1 4 16
15 16
16 16
[@]
cần-tư-vấn-mua-sofa-giường-ở-đâu-giá-tốt-nhất Trend cảnh báo: Cutouts

737 - Trend cảnh báo: Nhiệt đới lá - nhiệt đới in thiết kế


nhận được sẵn sàng cho một nhiệt độ sóng, vì fronds cọ, dương xỉ và tán lá rực rỡ là yêu thích mới của thiết kế đặt xem thư viện
16 hình ảnh
1 16
2 của 16
3 16
4 16
lá ring
bởi Jennifer Meyer từ Barneys; 212-826-8900.
5 16
6 16
7 16
8 16
9 16
10 16
 
11 16
12 16
13 16
14 16
15 16
16 16
< br > cầu thang
một cầu thang trong nhà Tony Duquette vận chuyển ở Neuilly, Pháp.
cần-lắm-một-địa-chỉ-bán-ghế-sofa-giường-chất Trend cảnh báo: Nhiệt đới lá - nhiệt đới in thiết kế

736 - 5 Waldorf Astoria cổ để bán

< Br >
1 tháng 3 năm 2017
Getty Images
rất nhiều mới tò mò của hàng hoá đã xuất hiện trên eBay: các phần của cơ sở hạ tầng nổi tiếng Waldorf Astoria. 
khách sạn mang tính biểu tượng, khoảng năm 1931, mà đã nằm mỗi tổng thống từ Herbert Hoover, tạm thời đóng cửa ngày hôm nay cho một đổi mới mà sẽ chuyển đổi hàng trăm phòng 1.400 đánh vào chung cư cao tầng riêng. Nó đã được mua bởi các công ty Trung Quốc, Anbang bảo hiểm nhóm, cho gần 2 tỷ USD trong năm 2015. 
bây giờ, các đồ cổ từ khách sạn đang được liệt kê bởi một người bán chưa xác định-chúng tôi chỉ biết anh ta là "redwagonantiques1" — trên eBay cho hàng chục ngàn đô la. Đó là chưa biết người đằng sau các tài khoản, và người bán không đáp ứng với ELLEDecor.com cho nhận xét thời điểm báo chí. Tất cả chúng ta biết là rằng người dùng nằm ở Andover, New Jersey (các mục yêu cầu dịch vụ đón khách), và rằng ông hoặc bà quyên góp một phần lợi nhuận cho nhiều mặt hàng cho các dự án chiến binh bị thương. 
kể từ khi nó vẫn còn chưa rõ ràng thiết kế tương lai của tầng Waldorf Astoria sẽ giống cái gì, nó là chắc chắn thú vị để có cơ hội, với số tiền phải của bột, để sở hữu một mảnh của trí mang tính biểu tượng của nó. Đọc trên cho các mặt hàng năm từ khách sạn bạn có thể mua bây giờ. 
h/t: 6sqft
1
bốn khắc tấm kính
những tấm kính nghệ thuật Deco đã nằm ở sảnh chính Park Avenue, một gói xung quanh khuân vác Cole piano. Mỗi người trong số bốn tấm khác nhau, và đang có khoảng 140 cân Anh mỗi. Họ được ký kết với "Shefts", đề cập đến thủy tinh Shefts, mà bây giờ là New York khắc thủy tinh. 
yêu cầu giá cả: $27.000
2
cặp của đồng cao Urns
đứng hơn 7 feet cao, những urns là hình ảnh Trung tâm điểm của lối vào grand Park Avenue. Mỗi cơ sở là 120 pounds rắn đúc đồng-làm cho mỗi urn cân nhắc tổng số 225 pounds. 
yêu cầu giá cả: $74.000
3
tám Art Deco Mahogany tấm
cũng từng tìm thấy trong sảnh đợi Park Avenue (chúng tôi đã phát hiện một xu hướng), những khắc kính gấp phân tấm là khoảng 9 feet cao và giới thiệu một thiết kế Art Deco cổ điển. 
yêu cầu giá cả: $16.000
4
riêng cửa quay vòng
khoảng năm 1931, những cửa quay ban đầu cung cấp một lối vào riêng các tháp Waldorf Astoria. Cửa được làm bằng khung thép và đồng, và đầu dầm thép vẫn có địa chỉ giao hàng gốc để Waldorf Astoria ở mực lớn thư. Kính kết hợp dây gà. 
yêu cầu giá cả: $60.000
5
lớn đặt cửa quay
này lớn bộ hoàn chỉnh các cửa quay vòng từ Waldorf Astoria bao gồm hai bên bằng đồng cửa ra vào mở ra cho các hành lang của khách sạn. 
yêu cầu giá cả: $38,500
các-mẫu-sofa-phòng-khách-đẹp-giá-rẻ-tại-tphcm 5 Waldorf Astoria cổ để bán